VongCamThach.comVòng Cẩm Thạch
Vòng đá, vòng ngọc trong khảo cổ và lịch sử Việt

Vòng đá có gờ mặt cắt chữ T và các kiểu tiết diện vòng cổ trong khảo cổ Việt Nam

Vòng có gờ mặt cắt chữ T là kiểu vòng đá đặc sắc thời tiền sử. Bài giải thích mặt cắt, các kiểu tiết diện vòng cổ, cách làm và cách nhà khảo cổ đọc chúng.

Macro photograph of a broken ancient stone ring with a raised inner collar resting on grey archival foam, gloved fingertips holding a caliper beside it, museum workroom, cool diffused light

Vòng có gờ, còn gọi là vòng mặt cắt chữ T, là loại vòng đá có phần vành mỏng và phẳng tỏa ra ngoài, còn mép trong nổi lên thành một gờ cao chạy quanh lỗ; cắt ngang bản vòng sẽ thấy hình giống chữ T nằm nghiêng. Đây là một trong những kiểu đồ trang sức đá được nhắc nhiều nhất khi giới thiệu văn hoá Phùng Nguyên và các văn hoá cùng thời ở Bắc Bộ, và kiểu vòng tương tự cũng gặp ở nhiều vùng lân cận như nam Trung Hoa và Thái Lan.

Bài này giải thích vì sao các nhà khảo cổ chú ý tới mặt cắt của một chiếc vòng, vòng có gờ trông ra sao và khó làm ở đâu, các kiểu tiết diện khác của vòng đá cổ, cách đo và vẽ mặt cắt, và những câu hỏi về cách đeo mà giới nghiên cứu còn để ngỏ. Bạn đang đeo vòng ngọc hôm nay sẽ thấy nhiều thuật ngữ quen thuộc như bản, mặt trong, mặt ngoài có gốc từ rất xa.

Mặt cắt là gì và vì sao nhà khảo cổ coi trọng nó

Mặt cắt, hay tiết diện, của một chiếc vòng là hình bạn thấy khi tưởng tượng cắt ngang thân vòng bằng một nhát dao thẳng đứng. Vòng ngọc hôm nay chủ yếu có vài kiểu mặt cắt: tròn, bán nguyệt (phẳng trong tròn ngoài, tức vòng bình an), chữ nhật bo cạnh (bản dẹt). Vòng đá thời tiền sử thì phong phú hơn nhiều, và chính sự phong phú đó là dữ liệu.

Với nhà khảo cổ, mặt cắt là một dấu hiệu kiểu dáng ít đổi khi vòng bị gãy. Một mảnh vòng nhỏ bằng đốt ngón tay đã đủ để vẽ ra mặt cắt, ước lượng đường kính và xếp mảnh đó vào một nhóm. Trong khi đó màu đá có thể đổi vì nằm lâu trong đất, bề mặt có thể mòn, nhưng tỉ lệ giữa bề rộng và độ dày, hình gờ, hình cạnh thì còn lại. Vì vậy các bảng phân loại đồ trang sức trong báo cáo khai quật thường lấy mặt cắt làm tiêu chí đầu tiên.

Mặt cắt còn nói về tay nghề và về thời gian. Kiểu mặt cắt phức tạp đòi hỏi người thợ chủ động để lại phần đá nhô ra và mài bỏ phần xung quanh, tức là tốn công và đòi hỏi kế hoạch từ đầu. Khi một kiểu mặt cắt xuất hiện, phổ biến rồi thưa dần qua các lớp đất, nó giúp xếp thứ tự trước sau giữa các địa điểm, bổ sung cho các phương pháp định tuổi khác.

Vòng có gờ trông ra sao: đọc từng phần của chiếc vòng

Vành ngoài mỏng và rộng. Phần lớn diện tích chiếc vòng là một vành phẳng, mỏng, tỏa ra như vành mũ. Ở nhiều chiếc, vành này mỏng tới mức soi được ánh sáng qua mép, cho thấy người thợ đã mài rất đều tay.

Gờ trong nổi cao quanh lỗ. Sát mép lỗ, đá được giữ lại dày hơn và nhô lên ở một mặt hoặc cả hai mặt, tạo thành một ống ngắn bao quanh lỗ. Gờ này là nét nhận diện chính; mảnh vòng nào còn giữ được đoạn gờ là đủ để biết nó thuộc loại vòng có gờ.

Mặt cắt chữ T hoặc chữ T kép. Gờ nhô về một mặt thì mặt cắt giống chữ T; gờ nhô về cả hai mặt thì mặt cắt giống chữ T đối xứng, có người mô tả như chữ thập ngắn. Tên gọi trong các tài liệu có thể khác nhau đôi chút, nhưng đều xoay quanh hình chữ T.

Lỗ trong thường tròn đều. Vì gờ là phần ôm sát lỗ, lỗ được khoan và mài kỹ để gờ cao đều quanh chu vi. Lỗ lệch tâm sẽ làm gờ chỗ cao chỗ thấp, rất dễ thấy.

Đường kính và cỡ rất đa dạng. Có vòng có gờ nhỏ, có chiếc vành rộng hơn lòng bàn tay. Sự đa dạng này là lý do giới nghiên cứu không vội kết luận mọi vòng có gờ đều đeo ở cổ tay, như phần sau bàn tới.

Các kiểu tiết diện vòng đá cổ thường gặp

Bảng dưới là cách mô tả phổ biến trong sách khảo cổ học phổ thông. Mỗi tài liệu có thể chia chi tiết hơn hoặc dùng tên khác; bảng chỉ để bạn hình dung khi đứng trước tủ trưng bày.

Kiểu mặt cắtHình dungĐộ khó khi làmCòn gặp ở vòng ngọc hôm nay?
Chữ nhật, vuôngBản dẹt hoặc vuông, cạnh có thể bo nhẹThấp đến vừaCó, gần với vòng bản dẹt
Tròn, bầu dụcThân vòng tròn như một sợi dây đáVừa, tốn đáCó, là vòng bản tròn cổ điển
Bán nguyệt, chữ DTrong phẳng, ngoài congVừaCó, là vòng bình an
Tam giácMột cạnh nhọn quay ra ngoài hoặc vào trongVừa đến caoHiếm
Thấu kínhHai mặt cong gặp nhau ở mép mỏngVừaHiếm, gần với vòng mảnh vê cạnh
Chữ T, vòng có gờVành mỏng rộng, gờ cao quanh lỗCao nhấtHầu như không, chỉ ở đồ phỏng cổ

Bảng cũng cho thấy một điều thú vị: các dáng vòng ngọc phổ biến hôm nay đều có "họ hàng" về hình học trong vòng đá cổ, còn kiểu khó nhất là vòng có gờ thì gần như biến mất khỏi trang sức đại trà. Đó không phải là bằng chứng về một dòng truyền nghề liền mạch, chỉ là sự lặp lại của những hình đơn giản và dễ đeo.

Vì sao vòng có gờ khó làm

Hãy nghĩ ngược từ thành phẩm. Muốn có gờ cao quanh lỗ và vành mỏng phía ngoài, người thợ phải bắt đầu từ một đĩa đá dày ít nhất bằng chiều cao của gờ, rồi mài bỏ gần hết bề dày ở phần vành, chỉ chừa lại một ống đá hẹp sát lỗ. Phần đá bị mài bỏ nhiều hơn phần còn lại. Với công cụ là đá mài và cát, đó là hàng giờ cọ xát cho mỗi mặt.

Khó thứ hai là giữ đều. Vành mỏng rất dễ vỡ nếu một chỗ bị mài quá tay hoặc đá có vân yếu. Gờ phải cao đều trên cả chu vi, nên người thợ cần một cách kiểm tra độ dày, có lẽ bằng mắt và cảm giác ngón tay, giống cách thợ vòng hôm nay vẫn kẹp thân vòng giữa hai ngón tay trượt quanh để dò chỗ phình. Các phế phẩm vỡ ở vành tìm thấy ở nơi làm vòng cho thấy không phải chiếc nào cũng thành.

Khó thứ ba là thứ tự công việc. Lỗ phải khoan trước khi mài vành, vì khoan sau sẽ làm vành mỏng nứt. Gờ phải được định hình trước khi đánh bóng, vì đánh bóng xong mới phát hiện gờ lệch thì gần như phải làm lại. Một quy trình nhiều bước, sai một bước là hỏng cả chiếc, chính là điều làm nên giá trị của vòng có gờ trong mắt người đương thời và trong mắt nhà nghiên cứu hôm nay.

Nhà khảo cổ đo và vẽ mặt cắt một mảnh vòng thế nào

Bạn có thể bắt gặp những bản vẽ mặt cắt vòng đá trong sách khảo cổ: một nửa hình chiếc vòng nhìn từ trên xuống, bên cạnh là một hình đen nhỏ là mặt cắt. Quy trình làm ra bản vẽ đó thường gồm các bước sau.

  1. Làm sạch nhẹ mảnh vòng bằng chổi mềm và nước sạch nếu được phép, không dùng hoá chất hay vật cứng cạo bề mặt.
  2. Đo bề rộng vành, độ dày ở chỗ dày nhất và mỏng nhất, chiều cao gờ nếu có, bằng thước kẹp, ghi theo đơn vị milimét.
  3. Ước lượng đường kính trong và ngoài bằng cách đặt cung của mảnh vòng lên một tấm bảng có vẽ sẵn các đường tròn đồng tâm, tìm đường tròn khớp nhất.
  4. Lấy mặt cắt bằng thước định hình hoặc đo nhiều điểm rồi vẽ lại ở tỉ lệ một một, tô đen phần mặt cắt theo quy ước bản vẽ khảo cổ.
  5. Ghi chú màu đá, độ trong, vết mài, vết khoan, dấu sửa chữa và vị trí tìm thấy; chụp ảnh có thước tỉ lệ.
  6. Xếp mảnh vào nhóm kiểu dáng, so với các mảnh cùng lớp đất và với các bảng phân loại đã công bố.

Nhờ quy trình chuẩn hoá này, một mảnh vòng nhỏ có thể được so sánh với hàng trăm mảnh khác ở các địa điểm xa nhau. Cũng vì thế mà một mảnh vòng nhặt về không có ghi chép vị trí sẽ mất đi phần lớn giá trị so sánh.

Vòng có gờ đeo ở đâu: câu hỏi còn để ngỏ

Gọi là "vòng" nhưng không phải chiếc nào cũng chắc chắn được đeo ở cổ tay. Với những chiếc lỗ trong vừa cổ tay người lớn, cách hiểu là vòng tay khá tự nhiên. Với những chiếc vành rất rộng mà lỗ khá hẹp, đeo ở cổ tay sẽ vướng và nặng, nên đã có những cách giải thích khác được đưa ra trong giới nghiên cứu ở khu vực: đeo ở chỗ khác trên người, khâu hoặc buộc lên trang phục, hoặc mang ý nghĩa nghi lễ nhiều hơn là trang sức hằng ngày.

Cách đáng tin nhất để trả lời là xem vị trí chiếc vòng trong mộ táng còn nguyên vẹn: nằm sát xương cổ tay, nằm trên ngực hay đặt bên cạnh. Nhưng đất chua ở nhiều vùng làm xương tan gần hết, và nhiều mộ đã bị xáo trộn, nên không phải lúc nào cũng có dữ liệu như vậy. Vì thế các tài liệu cẩn thận thường viết "vòng" theo hình dạng, kèm lời nhắc rằng công năng cụ thể còn cần thêm bằng chứng.

Với người đọc phổ thông, bài học ở đây là cách nghĩ: một hình dạng quen thuộc không tự động cho biết người xưa dùng nó thế nào. Khi đọc một bài viết khẳng định chắc nịch "người Phùng Nguyên đeo vòng có gờ để làm gì", hãy xem tác giả dựa vào dữ liệu nào. Nếu không có dữ liệu vị trí, đó là một giả thuyết, dù hấp dẫn.

Từ vòng có gờ tới chiếc vòng trên tay bạn hôm nay

Nhiều người mê vòng ngọc thích tìm "tổ tiên" cho dáng vòng mình đang đeo. Vòng bình an phẳng trong tròn ngoài, vòng bản dẹt, vòng tròn đều có hình học tương tự những kiểu tiết diện thời tiền sử. Tuy vậy, giữa vòng đá bốn nghìn năm trước và vòng ngọc hôm nay là một quãng rất dài, qua nhiều chất liệu, nhiều nền văn hoá và nhiều cách làm, nên không có căn cứ để nói dáng nào "truyền thẳng" từ thời Phùng Nguyên tới nay.

Điều nói được là một số giải pháp hình học tốt cho cổ tay người đã được tìm ra rất sớm và lặp lại ở nhiều nơi: mặt trong phẳng để ôm tay, mép bo để đỡ cấn, bản vừa phải để không quá nặng. Người thợ vòng hôm nay giải cùng bài toán ấy với máy móc hiện đại.

Nếu bạn thích vẻ đẹp của vòng có gờ, có những người làm vòng phỏng theo kiểu cổ bằng đá mới. Khi mua, hãy hỏi rõ đây là đồ làm mới, chất đá gì, và đừng nhận lời giới thiệu kiểu "vòng đào được ở di chỉ". Đồ phỏng cổ trung thực là một cách đẹp để sống gần lịch sử; đồ khảo cổ mua bán trôi nổi thì vừa dễ là hàng giả vừa vướng luật về di sản.

Câu hỏi thường gặp

Vòng có gờ và vòng mặt cắt chữ T là một hay hai loại?

Thường là cùng một loại được gọi theo hai cách: "vòng có gờ" mô tả phần gờ nổi quanh lỗ, còn "mặt cắt chữ T" mô tả hình nhìn thấy khi cắt ngang thân vòng. Một số tài liệu chia nhỏ hơn theo gờ nhô một mặt hay hai mặt, nhưng đều thuộc cùng nhóm kiểu dáng.

Vòng có gờ chỉ có ở Việt Nam phải không?

Không. Kiểu vòng có gờ hoặc vòng mặt cắt chữ T được ghi nhận ở nhiều vùng Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có nam Trung Hoa và Thái Lan. Ở Việt Nam, kiểu này thường được nhắc gắn với văn hoá Phùng Nguyên và các văn hoá cùng thời ở Bắc Bộ.

Vòng có gờ có làm bằng ngọc không?

Có những chiếc làm từ nephrite và có những chiếc làm từ đá có màu khác. Chất liệu cụ thể của từng chiếc chỉ biết chắc khi có phân tích khoáng vật. Vì vậy chú thích trong bảo tàng có khi ghi "đá", có khi ghi "đá ngọc" hoặc "nephrite" tuỳ hiện vật đã được nghiên cứu tới đâu.

Thợ ngọc hôm nay có làm được vòng có gờ không?

Về kỹ thuật thì làm được, với máy tiện và bánh mài hiện đại còn dễ hơn nhiều so với thời tiền sử. Nhưng kiểu này tốn đá, dễ vỡ ở vành mỏng và không hợp thói quen đeo hằng ngày, nên hầu như chỉ xuất hiện ở đồ phỏng cổ hoặc đồ trưng bày, không phải dáng vòng đại trà.

Có thể tự đo mặt cắt chiếc vòng ngọc của mình như nhà khảo cổ không?

Bạn có thể đo bề rộng bản và độ dày bằng thước kẹp, ghi đường kính trong và chụp ảnh nghiêng chiếc vòng. Những số liệu đó rất có ích khi lập hồ sơ cho vòng gia đình, khi cần sửa hoặc khi lỡ thất lạc. Chỉ cần đo nhẹ tay, đặt vòng trên khăn mềm.

Sao bảo tàng thường chỉ trưng bày mảnh vòng chứ không phải vòng nguyên?

Vì vòng đá rất dễ gãy khi nằm trong đất hàng nghìn năm, nên phần lớn hiện vật tìm được là mảnh. Với nhà khảo cổ, mảnh vòng vẫn mang đủ thông tin về mặt cắt, đường kính và chất liệu, nên được trưng bày để người xem thấy sự đa dạng thật của đồ trang sức thời ấy.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183